Xin lưu ý đây là đại cương của các sao. Cần xem kỹ các vị trí sao (miếu hay bại, vượng hay đắc), các hành của sao, các bộ sao, học thuộc lòng các câu phú.vv. Xem bài viết phía dước (vài bài).
1/ Quý tinh (12): Tử vi- Thái dương – Thiên mã – Long trì – Phượng các – Thiên khôi – Thiên việt – Ân Quang – Thiên quý – Tấu thư – Tam thai – Bát toạ.
2/ Quyền tinh (7) : Thiên tướng – Thất sát – Hoá quyền – Tướng quân – Quốc ấn – Phong cáo – Quan đớị
3/ Tài tinh (6): Vũ khúc – Thiên phủ – Thái âm – Lộc tồn – Hoá lộc – Lưu niên văn tinh.
4/ Văn tinh (7) : Hoá khoa – Văn xương – Văn khúc – Thiên khôi – Thiên việt – Thai phụ – Phong cáọ
5/ Hỷ tinh (3): Thiên hỷ – Hỷ thần – Thanh long.
6/ Thọ tinh (6): Thiên cơ – Thiên lương – Thiên đồng – Thiên thọ – Tràng sinh – Đế vượng.
7/ Phúc, Giải tinh (22): Thiên cơ – Thiên lương – Thiên đồng – Hoá khoa – Thiên khôi – Thiên việt – Ân quang – Thiên quý – Thiên quan – Thiên phúc – Thiên giải – Địa giải – Giải thần – Thiên đức – Phúc đức – Long đức – Nguyệt đức – Tràng sinh – Đẩu quân – Thiên thọ – Thiếu âm – Thiếu dương.
8/ Hung tinh (11): Phá quân – Thiên không – Địa không – Địa kiếp – Kình dương – Đà la – Hoả tinh – Linh tinh – Kiếp sát – Lưu hà – Phá toáị
Hung sát tinh chủ về tai hoạ, cường độ ảnh hưởng nặng nhẹ tuỳ đắc hãm đại và hội tụ nhiều ít.
9/ Bại tinh (13): Tang môn – Bạch hổ – Thiên khốc – Thiên hư – Đại hao – Tiểu hao – Cô thần – Quả tú – Suy – Bệnh – Tử – Mộ – Tuyệt.
Hai bại tinh chủ về phá tán, gây hình thương, bệnh tật, lo buồn, tang tóc, mất mát…nếu đi với các sát tinh khác ảnh hưởng xấu càng tăng.
10/ Ám tinh (3): Cự môn – Hoá kỵ – Thiên riêu
Ám tinh hay Kỵ tinh chủ về che lấp, ngăn trở, bế tắc, làm giảm sự quang minh của các sao tốt.
11/ Hình tinh (5): Liêm trinh – Thái tuế – Thiên hình – Quan phù – Tuế phá.
Hình tinh chủ về hình ngục, kiện tụng.
12/ Dâm tinh:(6): Tham lang – Đào hoa – Hồng loan – Thiên riêu – Mộc dục – Thaị
13/ Trợ tinh (5): Tả phù – Hữu bật – Tuần – Triệt – Thiên tàị
Sao trung lập, trợ tốt cũng như xấu.
(Theo Tử vi)
Đọc thêm: Vận Dụng Ngũ Hành Sinh Khắc khi giải Tử Vi
Áp dụng ngũ hành trong luận giải.
Hảm hay đắc của sao thì không có liên quan đến hành khí của sao mà chỉ liên quan đến tính chất xấu hay tốt mà sao đem lại. Sao đắc hảm tại các vị trí khắc nhau, và tuỳ theo tính chất đắc vượng miếu hay hảm mà mang ý nghĩa khác nhau.
Ý nghĩa xấu tốt của sao không thể thay đổi, trừ khi gặp Tuần hay Triệt. Một sao đã hảm địa không thể trở nên đắc địa cho dù hành khí của sao có thay đổi do tương quan sinh khắc giữa sao với các sao khác hay với Mệnh và cung.
Còn hành khí của sao có thịnh lên hay giảm xuống thì căn cứ vào tương quan giữa hành sao với các sao khác, hành sao với và hành cung, hành sao và hành Mệnh. Khi hành khí của sao thịnh lên thì ảnh hưởng tốt xấu của sao được phát huy mạnh mẽ hơn, nhưng bản chất xấu tốt của sao vẫn giữ nguyên vẹn. Khi hành khí của sao bị suy giảm thì ảnh hưởng xấu tốt của sao sẽ bị suy yếu, nhưng tính chất xấu tốt của sao không thể thay đổi.
Tóm lại, đắc hảm của sao nói về tính chất của sao, còn hành khí của sao thịnh hay suy nói về cường độ ảnh hưởng mạnh hay yếu.
Cát tinh sáng sủa thì thường mang tính chất tốt. Càng sáng thì thông thường càng có nhiều tính chất tốt. Cát tinh hảm địa thì mang tính chất xấu. Xấu nhưng không quá xấu vì là cát tinh, là sao chủ yếu mang đến điều tốt lành.
Hung tinh thường mang ý nghĩa xấu hung hãn, gây tai họạ. Hung tinh đắc địa thì tuy có mang tính chất tốt nhưng không trọn vẹn như cát tinh vì cũng còn có tính chất xấu đi kèm. Hung tinh hảm địa thì ý nghĩa xấu càng trở nên mãnh liệt.
Sao an theo năm (theo Can, Chi) thì có tác dụng lâu dài bền bỉ. Sao an theo tháng thì tác dụng cũng ngắn hơn, còn sao an theo giờ thì phát huy nhanh chóng tạm thời.
Khi luận giải, phải lấy hành bản Mệnh làm gốc để luận đoán.
Có bốn nguyên tắc được sắp xếp theo thứ tự quan trọng cần để ý.
NGUYÊN TẮC THỨ NHẤT: Đây là nguyên tắc quan trọng nhất, xét tương quan giữa hành sao và hành Mệnh. Hành Mệnh là hành của năm, nghĩa là lấy hành khí đang cực thịnh của năm làm chủ. Năm Mộc thì khi ấy Mộc phải vượng không thể yếu được. Xét sự sinh khắc giữa hai hành thì căn cứ vào câu phú sau:
- Đồng sinh thì Vượng (cùng một hành khi gặp nhau thì Vượng, cả hai hành đều mạnh lên, hưng thịnh lên).
- Sinh ngã thì Tướng (gặp hành khắc sinh ra ta (ngã) thì ta Tướng, ta tốt lên nhiều phần).
- Ngã sinh thì Hưu (ta sinh cho hành khắc thì không thành, không tăng, không hưng thịnh lên mà lại giảm, bị suy yếu, hao tổn, ta không được lợi gì, vô dụng).
- Ngã khắc thì Tù (ta khắc hành khác thì ta tù, nghĩa là bị giam cầm, bó tay không hoạt động).
- Khắc ngã thì Tử (ta gặp hành khắc ta thì ta chết).
Vận dụng qui luật sinh khắc này vào sự sinh khắc giữa hành sao và hành Mệnh ta có:
1) Hành sao sinh hành Mệnh: hành sao bị hao tổn, bị giảm (Hưu) nên ảnh hưởng xấu tốt của sao bị yếu đị Mệnh được hưng vượng lên (Tướng) chứng tỏ Mệnh được sao phu sinh, nghĩa là sao làm lợi cho Mệnh cho dù là cát tinh hay hưng tinh.
Nếu là cát tinh sáng sủa thì đưa đến lợi ích trọn vẹn cho Mệnh. Nếu là cát tinh lạc hảm thì do sao có tính chất xấu nên Mệnh tuy cũng hưỡng lợi ích nhưng không toàn vẹn. Nếu là hung tinh sáng sủa thì các tính chất tốt xấu của nó cũng khiến bản Mệnh hưng thịnh. Nếu là hung tinh lạc hảm thì cũng ít bị nguy hại hơn vì hành sao bị hao tổn nên phát huy yếu ảnh hưởng xấu của nó, trong khi bản Mệnh lại được hưng thịnh. Cho dù gặp sao xấu hay tốt, bản Mệnh vẫn vững vàng hưng thịnh lên vì bản Mệnh được sinh nhập (Tướng). Do đó người ta thường nói hành sao sinh hành Mệnh thì tốt. Người có hành sao sinh hành Mệnh là người được sao trợ giúp, sao không thể tác họa mạnh đến bản Mệnh.
2) Hành sao đồng hành với hành Mệnh: cả hai đều được hưng vượng lên (Vượng). Mọi ảnh hưởng tốt xấu của sao lên Mệnh đều hưỡng trọn vẹn. Cát tinh hay hung tinh vẫn phát huy mạnh mẽ hơn ảnh hưởng của chúng. Tuy nhiên bản Mệnh vẫn được ổn cố vì hành khí của bản Mệnh được hưng thịnh lên, nghĩa là sao đó thuộc về mình, mình hoàn toàn chủ động, Mệnh mang những đặc tính của saọ. Do đó hành sao đồng hành với bản Mệnh thì tốt nhất, Mệnh chỉ huy được sao một cách trọn vẹn.
3) Hành Mệnh sinh hành sao: hành khí của sao hưng thịnh lên (Tướng), trong khi đó bản Mệnh bị hao tổn (Hưu). Hành khí của sao hưng thịnh lên nhưng không có lợi ích gì cho bản Mệnh vì bản Mệnh bị suy tổn. Cho dù cát tinh sáng sủa đi chăng nữa cũng không đem lại lợi ích cho Mệnh mà còn làm cho Mệnh bị hao tổn khi sao phát huy tính chất của nó. Hung tinh lạc hảm khi phát huy tính chất của nó thì còn gây bất lợi cho Mệnh nhiều hơn do các tính chất xấu của nó. Do đó Mệnh không chỉ huy được sao, bị hao tổn do các ảnh hưởng xấu tốt của sao gây ra.
4) Hành sao khắc hành Mệnh: hành khí của sao vẫn giữ nguyên nhưng bị giam cầm bó tay không hoạt động được (Tù). Bản Mệnh bị hao tổn, thiệt hại rất nhiều (Tủ), bị chết, có nghĩa là gây nhiều điều bất lợi đến cho bản Mệnh. Cho dù cát tinh miếu vượng thì mọi tính chất tốt đẹp của sao cũng làm cho Mệnh bị mệt mõi, tuy là cát nhưng lại không đem điều gì tốt lành đến Mệnh. Tuy nhiên vì là cát tinh nên điều tai hại mang đến cũng đỡ lọt. Còn nếu là hung tinh thì thật là bất lợi cho Mệnh. Nếu là hung tinh đắc địa thì tính chất tốt nhưng không trọn vẹn của hung tinh bị suy giảm nhiều nên phát huy tác dụng rất yếu, thành ra Mệnh cũng hưỡng ít tính chất xấu tốt lẫn lộn của saọ. Còn nếu là hung tinh lạc hảm thì tính chất xấu của nó càng làm bản Mệnh càng thêm bị nguy hại. Hung tinh lạc hảm khắc hành bản Mệnh dễ mang lại tai họa cho Mệnh nhất. Do đó hành sao khắc hành Mệnh thì xấu nhất vì sao hoàn toàn chủ động gây bất lợi cho bản Mệnh, cho dù là cát tinh.
5) Hành Mệnh khắc hành sao: hành sao bị tổn hại suy yếu, bị chết (Tủ) nên cường độ ảnh hưởng xấu tốt của sao bị giảm rất nhiều trong khi Bản Mệnh bị giam cầm bó tay không hoạt động được (Tù), nghĩa là Mệnh không chỉ huy sao, không coi sao đó là thuộc về mình. Nếu là cát tinh sáng sủa thì không mang đến điều lợi cho Mệnh là bảo. Nếu là cát tinh hảm địa thì Mệnh cũng ít chịu ảnh hưởng tính chất xấu của saọ. Nếu là hung tinh đắc địa thì tính chất đắc của hung tinh bị suy giảm nhiều nên phát huy tác dụng rất yếu, thành ra Mệnh cũng hưỡng ít tính chất xấu tốt lẫn lộn của saọ. Nếu là hung tinh lạc hảm thì tính chất xấu của hung tinh bị yếu đi nhiều, do đó Mệnh rất ít bị ảnh hưởng hơn. Do đó hành Mệnh khắc thắng hành saọ (khắc xuất) thì ảnh hưỡng xấu tốt của sao lên Mệnh không còn là bao do hành sao bị suy yếu rất nhiều trong khi hành Mệnh bị giam cầm không hoạt động được.
Vào mùa Xuân hành Mộc, Hạ hành Hỏa, Thu hành Kim, Đông hành Thuỷ, Tứ Quí hành Thổ. Khi xét thì cũng sử dụng nguyên tắc xét sinh khắc ngũ hành giữa Mùa với hành bản Mệnh. Lấy ngũ hành bản Mệnh làm chủ để xét đoán.
Vậy, hành của Cục và hành của Mệnh cũng như tương quan xung khắc giữa chúng đóng một vai trò quan trọng trong tử vi.

